Friday, June 10, 2016

BỆNH VIÊM PHỔI (PNEUMONIA)



Lưu ý: Các kiến thức y học dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo, không nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, chẩn đoán, hoặc điều trị cho các trường hợp bệnh.  Các trường hợp bệnh nên được chẩn đoán và điều trị bởi bác sĩ y khoa có giấy phép hành nghề.  Hãy gọi cho số điện thoại khẩn cấp ở địa phương (chẳng hạn như 911) cho tất cả các trường hợp cấp cứu y tế.






ĐÁP ÁN CÂU HỎI 1

Bệnh viêm phổi là gì?

1.   Nhiễm trùng phổi
2.   Viêm phế quản cấp tính
3.   Viêm phế quản nghiêm trọng
4.   Biến chứng của bệnh viêm gan

Câu trả lời: 1, Nhiễm trùng phổi

Bệnh viêm phổi là một dạng nhiễm trùng phổi gây viêm các túi khí ở một hoặc 2 lá phổi, do vi khuẩn, virut, hoặc nấm gây ra.  Các túi khí này có thể chứa đầy chất dịch hoặc mủ, gây ho ra đờm (đàm), sốt, ớn lạnh và khó thở.  Nó cũng có thể là do hít phải một số chất hóa học gây kích thích mô phổi.  Bệnh viêm phổi có thể ảnh hưởng đến một hoặc hai lá phổi. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 2

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn (bacterial pneumonia) có thể phát sinh sau một cơn cảm lạnh hoặc cảm cúm

1.   Đúng
2.   Sai

Câu trả lời: 1, Đúng

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn có thể tự nó phát triển, hoặc sau khi một người bị cảm lạnh hoặc cảm cúm.  Các bệnh đường hô hấp hoặc nhiễm virut có thể làm cho người bệnh có nhiều nguy cơ mắc bệnh viêm phổi do vi khuẩn.  Các yếu tố nguy cơ gây bệnh viêm phổi do vi khuẩn bao gồm bệnh tật, gần đây được phẫu thuật, hệ miễn dịch suy yếu (chẳng hạn như những người bị HIV/AIDS hoặc ung thư hoặc sử dụng một số loại thuốc), cao tuổi, hoặc thiếu dinh dưỡng.  Khi hệ miễn dịch của cơ thể bị suy yếu, các vi khuẩn sống trong cổ họng khỏe mạnh có thể di chuyển đến phổi, gây viêm phổi và nhiễm trùng toàn thân. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 3

Bệnh viêm phổi không điển hình (walking pneumonia or atypical pneumonia) là gì?

1.   Bệnh phiêm phổi không điển hình là một dạng viêm phổi nhẹ
2.   Bệnh phiêm phổi không điển hình không xuất hiện các triệu chứng
3.   Bệnh phiêm phổi không điển hình là một tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp trên
4.   Bệnh phiêm phổi không điển hình là một dạng viêm phổi gây chết người.

Câu trả lời: 1, Bệnh phiêm phổi không điển hình là một dạng viêm phổi nhẹ

Định nghĩa của “bệnh viêm phổi không điển hình” chỉ đơn giản ám chỉ một trường hợp viêm phổi nhẹ, trong trường hợp này bệnh nhân không bị bệnh nặng và không đòi hỏi phải nghỉ ngơi trên giường hoặc nhập viện, bệnh nhân có thể đi lại bình thường (cho nên được gọi là walking pneumonia).  Tình trạng này thường do các vi khuẩn mycoplasma pneumoniae (M. pneumonia) gây ra.  Các triệu chứng thường không nghiêm trọng, chủ yếu ảnh hưởng đến các trẻ em ở tuổi đến trường và những người thành niên dưới 40 tuổi.  Những thành viên trong gia đình có người mắc bệnh viêm phổi không điển hình thường bắt đầu xuất hiện các triệu chứng sau đó 2 hoặc 3 tuần.  Dạng bệnh này có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 4

Bệnh viêm phổi có thể là một bệnh nhiễm trùng gây tử vong

1.   Đúng
2.   Sai

Câu trả lời: 1, Đúng

Mặc dù nhiều trường hợp viêm phổi có thể diễn biến nhẹ chẳng hạn như bệnh viêm phổi không điển hình, nhưng nếu không được điều trị thì một số trường hợp viêm phổi có thể trở nên nghiêm trọng và thậm chí có thể gây tử vong.  Mỗi năm có hàng ngàn người tử vong hoặc nhập viện do bệnh viêm phổi.  Những người có nhiều nguy cơ nhất bị nhiễm trùng nghiêm trọng do viêm phổi bao gồm những người hút thuốc lá, những người có bệnh tim và bệnh phổi, các trẻ sơ sinh và các trẻ nhỏ, những người thành niên từ 65 trở lên, và những người có các bệnh lý mãn tính hoặc có hệ miễn dịch bị suy yếu.  Nếu bạn có các yếu tố nguy cơ gây bệnh viêm phổi nghiêm trọng và bạn bị ho mà không dứt, khó thở, đau ngực, sốt, hoặc cảm thấy sức khỏe tệ hơn sau qua khỏi cơn cảm lạnh hoặc cảm cúm, thì bạn phải đi khám bác sĩ. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 5

Các triệu chứng của bệnh viêm phổi là gì?

1.   Ho, sốt, ớn lạnh
2.   Phát ban, đau khớp, ngứa da
3.   Vàng da và lột da
4.   Tất cả các trường hợp trên

Câu trả lời: 4, Tất cả các trường hợp trên

Các triệu chứng phổ biến của bệnh viêm phổi bao gồm:

-      Ho (có thể sản sinh dịch nhầy vàng xanh hoặc có máu)
-      Sốt và ớn lạnh
-      Khó thở, thỉnh thoảng chỉ khi gắng sức
-      Đau ngực khi bạn ho hoặc hít sâu
-      Nhức đầu
-      Chảy mồ hôi, da lạnh và ẩm ướt
-      Mất khẩu vị
-      Mệt mỏi
-      Rối loạn tinh thần

Các triệu chứng của bệnh viêm phổi có thể diễn biến từ nhẹ đến nghiêm trọng, có thể thay đổi tùy theo tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bạn, và dạng bệnh viêm phổi bạn mắc phải. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 6

Bệnh viêm phổi có truyền nhiễm không?

1.   Không
2.  

Câu trả lời: 2, Có

Đây là một câu hỏi khá tinh tế.  Về mặt chuyên môn, bệnh viêm phổi ám chỉ đến tình trạng viêm phổi mà bản thân nó không truyền nhiễm.  Tuy nhiên, các nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi chẳng hạn như vi khuẩn hoặc virut có thể lây nhiễm.

Các vi khuẩn hoặc virut gây bệnh viêm phổi có thể lây truyền từ người này sang người kia từ những giọt bắn trong không khí, chẳng hạn khi một người ho hoặc hắt hơi.  Các hạt này cũng có thể đậu trên các bề mặt chẳng hạn như các nắm cửa hoặc mặt bàn, đó là những nơi người khác có thể chạm vào và rồi đưa tay lên mặt, thế là bị nhiễm trùng.  Các vi khuẩn Mycoplasma pneumoniae (M. pneumonia) thường gây viêm phổi không điển hình (các trường hợp nhẹ), vi khuẩn Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA), và Mycobacterium tuberculosis tất cả đều có khả năng lây nhiễm cao.  Khoảng thời gian mà một người có khả năng truyền nhiễm có thể là từ 1 hoặc 2 ngày đến 2 tuần.

Nếu nguyên nhân gây viêm phổi là do hít phải (viêm phổi do hít vào vật thể lạ, chẳng hạn như thực phẩm, chất lỏng, nước bọt hoặc chất nôn mửa ra), thì nó không truyền nhiễm. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 7

Bệnh viêm phổi là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây chết người ở Hoa Kỳ.

1.   Đúng
2.   Sai

Câu trả lời: 1, Đúng

Kết hợp với cảm cúm, bệnh viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 8 ở Hoa Kỳ. Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ (CDC), các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu là:

1.   Bệnh tim
2.   Ung thư
3.   Các bệnh đường hô hấp dưới mãn tính
4.   Các tai nạn (thương tổn không cố ý)
5.   Đột quỵ (các bệnh mạch não)
6.   Bệnh Alzheimer
7.   Bệnh tiểu đường (đái tháo đường)
8.   Cúm và bệnh viêm phổi
9.   Viêm phổi, hội chứng thận hư
10.               Tự gây hại bản thân (tự tử) (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 8

Có vắcxin phòng chống bệnh viêm phổi

1.  
2.   Không

Câu trả lời: 1, Có

Có các loại vắcxin hiện hành để phòng chống 2 dạng bệnh viêm phổi.  Các loại vắcxin này không ngăn ngừa được tất cả các trường hợp bệnh viêm phổi nhưng chúng có thể làm giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng nghiêm trọng và gây tử vong.

PCV13 (Prevnar 13) được đề xuất cho tất cả trẻ em dưới 5 tuổi, tất cả người thành niên từ 65 tuổi trở lên, và những người từ 6 tuổi trở lên có một số yếu tố nguy cơ.

Vắcxin PPSV23 (Pneumococcal polysaccharide vaccine) hoặc Pneumovax được đề xuất cho các trẻ trên 2 tuổi, và tất cả những người thành niên từ 65 tuổi trở lên có nguy cơ cao mắc bệnh khuẩn cầu phổi (pneumococcal disease). Những người có nguy cơ cao, bao gồm những người hút thuốc lá hoặc lạm dụng rượu bia, có các bệnh lý mãn tính (bệnh suyễn, bệnh tiểu đường, bệnh tim hoặc bệnh phổi, bệnh xơ gan), hệ thống miễn dịch bị suy yếu (HIV/AIDS, suy thận, lá lách bị tổn thương hoặc bị cắt bỏ), bệnh tế bào hình liềm (sickle cell disease), đang sử dụng thuốc để ngăn ngừa tình trạng thải bộ phận ghép (organ transplant rejection), hoặc đang tiếp nhận hóa trị.

Các tác dụng phụ của các vắcxin bệnh viêm phổi thường là nhẹ và tạm thời, và bao gồm các phản ứng ở vị trí tiêm (mẫn đỏ, chạm vào đau), sốt nhẹ, mất khẩu vị, đau cơ, hoặc khó chịu. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 9

Đâu là sinh vật không điển hình (atypical organism) thường liên quan đến một dạng bệnh viêm phổi nhẹ hơn (“bệnh viêm phổi không điển hình”)?

1.   Loài Legionella
2.   Loài Enterococcus
3.   Actinomyces israelii
4.   Acinetobacter baumannii

Câu trả lời: 1, Loài Legionella

Các sinh vật không điển hình (atypical organism) thường có liên quan đến một dạng viêm phổi nhẹ, được gọi là “bệnh viêm phổi không điển hình”.  Một đặc điểm làm cho các sinh vật này không điển hình là không thể phát hiện chúng bằng tiến trình nhuộm Gram (Gram stain) hoặc nuôi cấy chúng trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn tiêu chuẩn (standard bacteriologic media).  Ngoài ra, các sinh vật này thường tạo ra một vài triệu chứng liên quan không ảnh hưởng đến phổi.  Các sinh vật không điển hình bao gồm:

-      Loài Mycoplasma
-      Loài Chlamydophila
-      Loài Legionella
-      Coxiella burnetii
-      Bordetella pertussis (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 10

Phát hiện nào sau đây có thể cho thấy bị nhiễm khuẩn Mycoplasma pneumoniae?

1.   Nhịp tim chậm (Bradycardia)
2.   Bệnh nha chu (Periodontal disease)
3.   Viêm màng nhĩ (Bullous myringitis)
4.   Các u da (Cutaneous nodules)

Câu trả lời: 3, Viêm màng nhĩ (Bullous myringitis)

Các kết quả kiểm tra tổng quát mà chúng có thể chỉ ra một nguyên nhân cụ thể để xem xét, bao gồm:

-      Nhịp tim chậm (bradycardia) có thể chỉ ra nguyên nhân bị nhiễm vi khuẩn Legionella;
-      Bệnh nha chu (periodontal disease) có thể cho thấy bị nhiễm khuẩn kỵ khí (anaerobic infection) và/hoặc nhiễm đa sinh vật (polymicrobial infection);
-      Viêm màng nhĩ (bullous myringitis) có thể chỉ ra nguyên nhân bị nhiễm khuẩn Mycoplasma pneumoniae;
-      Chứng cứ thể lý về nguy cơ hít vào vật thể lạ (risk for aspiration) có thể bao gồm hiện tượng giảm phản xạ họng (gag reflex); và
-      Các u da (cutaneous nodules), đặc biệt trong bối cảnh có những phát hiện về hệ thống thần kinh trung ương, có thể cho thấy bị nhiễm vi khuẩn gram-dương Nocardia. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 11

Phương pháp xét nghiệm viêm phổi do virut (virologic pneumonia test) nào sau đây là nhạy cảm nhất?

1.   Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA)
2.   Reverse transcriptase polymerase chain reaction (RT-PCR)
3.   Viral-antigen detection
4.   Hemagglutination assay

Câu trả lời: 2, Reverse transcriptase polymerase chain reaction (RT-PCR)

Sự quan tâm gần đây tập trung vào việc phát triển các xét nghiệm dựa vào PCR (polymerase chain reaction), với các số liệu đơn, đa phân tử và thời gian thực. Các xét nghiệm này có độ nhạy cảm cao hơn so với các tiến trình nuôi cấy. Các tiến trình nested PCR và RT-PCR là những phương pháp có độ nhạy cảm cao nhất. Chúng giúp làm tăng tỷ lệ phát hiện các virut gây nhiễm đường hô hấp ở những người thành niên bị các chứng bệnh ung thư máu và bệnh viêm phổi từ 19% lên đến 35%. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 12

Kết quả chụp X-quang nào sau đây cho thấy bị viêm phổi do hít vào vật thể lạ (aspiration pneumonia)?

1.   Giãn thùy với các rãnh gian tiểu thùy lồi ra do dịch viêm tiết ra với thể tích lớn
2.   Dạng đốm với vùng quanh phế quản bị dày lên và những chỗ chắn sáng ở khoang khí không rõ ràng
3.   Các tế bào viêm xâm nhập vào mô kẽ
4.   Thâm nhiễm đoạn trên của thùy dưới bên phải

Câu trả lời: 4, Thâm nhiễm đoạn trên của thùy dưới bên phải

Các kết quả chụp X-quang bệnh viêm phổi do hít vào vật thể lạ có thể quan sát thấy ở những vùng phụ thuộc trọng lực của phổi (ảnh hưởng bởi tư thế của bệnh nhân). Kết quả kinh điển là sự thâm nhiễm ở thùy dưới bên phải, nhưng bệnh viêm phổi do hít vào vật thể lạ cũng có những sự phân phối đặc thù dựa vào tư thế của bệnh nhân vào thời điểm hít vào. Phổi bên phải bị ảnh hưởng gấp đôi phổi bên trái. Đối với các bệnh nhân ở tư thế nằm, các phát hiện nằm ở những phân đoạn phía sau của các thùy trên; và, đối với các bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng, các phân đoạn đáy của các thùy dưới là những vị trí thường bị ảnh hưởng. (Trở về đầu trang)



ĐÁP ÁN CÂU HỎI 13

Tác nhân nào sau đây không cần phải đối phó trong việc điều trị cho những bệnh nhân chỉ bị bệnh viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (community-acquired pneumonia – CAP), ngoài ra thì sức khỏe tốt?

1.   Haemophilus influenzae
2.   Legionella species
3.   Pseudomonas aeruginosa
4.   Moraxella catarrhalis

Câu trả lời: 3, Pseudomonas aeruginosa

Ở những chủ thể không có tình trạng bệnh lý nào ngoài bệnh viêm phổi mắc phải trong cộng đồng, thì việc điều trị không cần phải bao gồm vi khuẩn Staphylococcus aureus, loài Klebsiella, hoặc vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa. Đa số các chế độ trị liệu cho bệnh CAP bao gồm cả vi khuẩn Klebsiella pneumoniae). Việc điều trị vi khuẩn S aureus phải được tiến hành ở các bệnh nhân cúm bị thâm nhiễm ổ (focal infiltrate) hay bị viêm phổi.

Đa số các loại thuốc kháng sinh được dùng để điều trị bệnh viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (ví dụ: doxycycline, các loại quinolones đường hô hấp, các loại beta lactam) mang lại hiệu quả cao trong việc chống lại các sinh vật kỵ khí ở miệng. Không cần thiết phải sử dụng metronidazoleclindamycin trừ khi bệnh nhân bị nghi ngờ nhiễm sinh vật kỵ khí ở phổi. Đối với những trường hợp bị áp-xe phổi do sinh vật ưa khí gây ra, thì clindamycin hoặc moxifloxacin thường được sử dụng. Việc điều trị phải bao gồm các sinh vật gây bệnh điển hình (Streptococcus pneumoniae, H influenzae, M catarrhalis) và không điển hình (loài Legionella Mycoplasma, Chlamydophila pneumoniae). (Trở về đầu trang)